CHÍNH PHỦ

________

Số:         /2007/NĐ-CP

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________________________________

Hà Nội, ngày     tháng      năm 2007

Text Box: DỰ THẢO

  

 

NGHỊ ĐỊNH

Hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp

 hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác

_______

 

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Phá sản ngày 24 tháng 6 năm 2004;

Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm ngày 21 tháng 12 năm 2000;

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 12 tháng 7 năm 2006;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

 

NGHỊ ĐỊNH:

 

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định về tiêu chí xác định danh mục doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác và việc áp dụng một số quy định của Luật Phá sản đối với doanh nghiệp này.

2. Nghị định này áp dụng đối với các doanh nghiệp được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và thuộc danh mục quy định tại Điều 2 của Nghị định này, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác.

Điều 2. Tiêu chí xác định và danh mục doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác

1. Đối với lĩnh vực bảo hiểm: là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp bảo hiểm).

2. Đối với lĩnh vực chứng khoán: là các doanh nghiệp kinh doanh, cung cấp dịch vụ và đầu tư chứng khoán (trừ Quỹ đầu tư chứng khoán) được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật Chứng khoán (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp chứng khoán).

3. Đối với lĩnh vực tài chính khác: là các doanh nghiệp có đầy đủ những tiêu chí sau:

- Được thành lập theo giấp phép, quyết định của Bộ Tài chính hoặc hoạt động dưới sự quản lý Nhà nước của Bộ Tài chính để trực tiếp cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực tài chính.

- Có vị trí quan trọng và việc phá sản đối với doanh nghiệp đó có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, đời sống, xã hội của đất nước, của một khu vực lãnh thổ.

Căn cứ vào tiêu chí này, định kỳ hàng năm hoặc trong trường hợp cần thiết Bộ trưởng Bộ Tài chính lập và công bố danh mục doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính khác; bổ sung hoặc xoá tên doanh nghiệp trong danh mục doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính khác.

Điều 3. Đối tượng có quyền và nghĩa vụ trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

1. Những người sau đây có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác.

a) Chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần của doanh nghiệp;

b) Đại diện của người lao động trong doanh nghiệp hoặc đại diện công đoàn của doanh nghiệp;

c) Đại diện chủ sở hữu vốn (trường hợp đối với các doanh nghiệp nhà nước);

d) Các cổ đông công ty hoặc nhóm cổ đông (đối với công ty cổ phần);

đ) Thành viên hợp doanh của công ty hợp danh.

2. Chủ doanh nghiệp (Chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ doanh nghiệp tư nhân) hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác lâm vào tình trạng phá sản;

3. Trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nếu nhận thấy doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác lâm vào tình trạng phá sản, Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan theo quy định của pháp luật có nhiệm vụ thông báo bằng văn bản cho những người nêu tại khoản 1 Điều này biết để họ xem xét việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Cơ quan thông báo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông báo đó.

4. Những người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại khoản 1 Điều này có các nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định tại Điều 19 của Luật Phá sản.

Điều 4. Trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

1. Toà án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong những trường hợp sau:

a) Người nộp đơn không nộp tiền tạm ứng phí phá sản trong thời hạn do Toà án ấn định;

b) Người nộp đơn không có quyền nộp đơn;

c) Có Toà án khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản;

d) Có căn cứ rõ ràng cho thấy việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không khách quan, gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản;

đ) Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, tài chính khác đang được đặt trong tình trạng kiểm soát khả năng thanh toán, cảnh báo hoặc có quyết định áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán đang còn hiệu lực;

e) Doanh nghiệp chứng minh được mình không lâm vào tình trạng phá sản.

Điều 5. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Toà án chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác khi đã nhận được văn bản của Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Chủ sở hữu thông báo không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Điều 6. Thủ tục phá sản

1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thủ tục phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:

a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;

b) Phục hồi hoạt động kinh doanh;

c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ;

d) Tuyên bố doanh nghiệp phá sản.

2. Trường hợp Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước hoặc chủ sở hữu của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật đã có văn bản chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán, Thẩm phán quyết định mở thủ tục phá sản và thực hiện ngay thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp theo quy định của Luật Phá sản, Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Điều 7. Tổ quản lý, thanh lý tài sản

1. Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán phụ trách việc phá sản doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá  sản.

2. Thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản gồm có:

a) Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp với Toà án có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản làm Tổ trưởng.

b) Một cán bộ của Toà án nhân dân có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

c) Một đại diện của chủ nợ là tổ chức, cá nhân có số nợ lớn nhất trong số các chủ nợ. Trường hợp hội nghị chủ nợ xét thấy phải thay người đại diện cho các chủ nợ trong thành phần tổ quản lý, thanh lý tài sản thì hội nghị bầu người thay thế.

d) Một đại diện hợp pháp của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản.

đ) Một đại diện của Bộ Tài chính khi tiến hành phá sản doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi tiến hành phá sản doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp khi tiến hành phá sản các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính khác tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản;

e) Đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động (nơi không có tổ chức công đoàn) đối với doanh nghiệp có nợ lương hoặc các khoản nợ khác đối với người lao động;

3. Cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này có trách nhiệm cử đại diện tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản theo yêu cầu của Thẩm phán.

4. Trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có chi nhánh hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Tổ quản lý, thanh lý tài sản có thể thành lập bộ phận giúp việc làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của chi nhánh doanh nghiệp đó.

Tổ quản lý, thanh lý tài sản quy định cụ thể thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ phận giúp việc này.

Điều 8. Nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ làm việc của Tổ quản lý, thanh lý tài sản

1. Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 10 và 11 của Luật phá sản.

2. Chế độ làm việc của Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện theo quy định tại Điều 20 và từ Điều 22 đến Điều 33 của Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản.

 

Chương II

PHÁ SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

Điều 9. Điều kiện xác định doanh nghiệp bảo hiểm lâm vào tình trạng phá sản

Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, sau khi áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán mà vẫn mất khả năng thanh toán. Khi đó doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện các thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản và Nghị định này.

Điều 10. Thông báo về việc có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp bảo hiểm

Trong thời hạn năm (5) ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo cho Bộ Tài chính và chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp biết. Chậm nhất là mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, Bộ Tài chính phải có văn bản về việc có hoặc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm.

Điều 11. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và của doanh nghiệp bảo hiểm

1. Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nếu nhận thấy doanh nghiệp bảo hiểm không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn thì Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra, tổ chức kiểm toán phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính.

2. Trường hợp nhận thấy nguy cơ mất khả năng thanh toán, trước khi quyết định việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp bảo hiểm phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, củng cố tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phương án khôi phục khả năng thanh toán.

3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không tự khôi phục được khả năng thanh toán thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khôi phục khả năng thanh toán, gồm các biện pháp sau:

a) Bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu;

b) Tái bảo hiểm; thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động;

c) Củng cố tổ chức bộ máy và thay đổi người quản trị, điều hành của doanh nghiệp;

d) Yêu cầu chuyển giao hợp đồng bảo hiểm;

đ) Các biện pháp khác.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán theo yêu cầu của Bộ Tài chính quy định tại khoản 3 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm bị đặt vào tình trạng kiểm soát khả năng thanh toán. Bộ Tài chính quyết định thành lập Ban kiểm soát khả năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán theo quy định tại Điều 80 Luật kinh doanh bảo hiểm.

Điều 12. Thanh lý tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm phá sản

Việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm phá sản thực hiện theo phương thức và thứ tự ưu tiên như sau:

a) Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực để tiếp tục kinh doanh;

b) Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho các đối tượng khác trong trường hợp không có đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực tham gia đấu giá mua doanh nghiệp để tiếp tục kinh doanh;

c) Bán theo phương thức trực tiếp toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực để tiếp tục kinh doanh trong trường hợp chỉ có một đối tượng đăng ký mua;

d) Bán đấu giá từng tài sản riêng lẻ được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp;  

đ) Bán tài sản từng tài sản riêng lẻ theo phương thức trực tiếp được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá từng tài sản hoặc giá trị tài sản dưới mức phải bán theo phương thức đấu giá theo quy định của pháp luật.

Điều 13. Thanh lý nợ có bảo đảm và hoàn trả lại tài sản

Trước khi phân chia giá trị tài sản, doanh nghiệp bảo hiểm phá sản phải thực hiện thanh toán các khoản sau:

1. Các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho các chủ nợ có bảo đảm theo quy định tại Điều 35 của Luật Phá sản.

2. Hoàn trả cho Nhà nước giá trị tài sản đã được sử dụng khi áp dụng các biện pháp cần thiết để phục hồi khả năng thanh toán và hoạt động kinh doanh theo quy định tại Điều 36 của Luật Phá sản.

Điều 14. Thứ tự phân chia tài sản  

Giá trị tài sản của doanh nghiệp phá sản được phân chia theo thứ tự quy định sau:

1. Sau khi Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp theo thứ tự sau đây:

a) Phí phá sản;

b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

c) Quyền lợi được bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng tái bảo hiểm nhân thọ;

d) Trả tiền bảo hiểm đối với các hợp đồng bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người;

đ) Bồi thường bảo hiểm đối với tất cả các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác;

e) Thanh toán cho các hợp đồng tái bảo hiểm của tất cả các loại hình bảo hiểm khác;

g) Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

2. Nếu giá trị tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:

a) Chủ doanh nghiệp (chủ đầu tư đối với công ty TNHH);

b) Các cổ đông của công ty cổ phần.

3. Việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được thực hiện theo quy định tại Điểm a, b, g khoản 1 và khoản 2 Điều này.

 

Chương III

PHÁ SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CHỨNG KHOÁN

Điều 15. Điều kiện xác định doanh nghiệp chứng khoán lâm vào tính trạng phá sản

 Doanh nghiệp chứng khoán được coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu, sau khi áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán.

Điều 16. Thông báo về việc có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp chứng khoán

Trong thời hạn năm (5) ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp biết. Chậm nhất là mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có văn bản về việc có hoặc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của doanh nghiệp chứng khoán.

Điều 17. Áp dụng biện pháp cần thiết phục hồi khả năng thanh toán (sau đây gọi là áp dụng các biện pháp kịp thời).

Sau khi có văn bản thông báo cho Toà án về việc có áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán, căn cứ vào thẩm quyền Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được quyền:

a) Yêu cầu doanh nghiệp chứng khoán có nguy cơ mất khả năng thanh toán gửi báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh và tổng hợp các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán.

b) Báo cáo về các biện pháp khắc phục kịp thời phải được gửi lên Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong vòng năm (5) ngày kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng các biện pháp kịp thời.

Điều 18. Xử lý các khoản tiền gửi và tài sản uỷ thác của khách hàng.

Ngay sau khi có Quyết định của Toà án cấp có thẩm quyền về việc mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp chứng khoán, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có quyền yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện những việc sau:

1. Doanh nghiệp phải hoàn tất các giao dịch theo các hợp đồng đã cam kết với khách hàng và đối tác trước đó.

2. Các doanh nghiệp là công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải thực hiện ngay việc bàn giao quyền và nghĩa vụ đối với quỹ, nhà đầu tư uỷ thác, các nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán cho các doanh nghiệp thay thế.

3. Từ thời điểm doanh nghiệp chứng khoán có quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản doanh nghiệp thì mọi hoạt động kinh doanh phát sinh mới của doanh nghiệp đều không có giá trị pháp lý.

4. Đối với trường hợp doanh nghiệp có quyết định mở thủ tục phá sản, thì việc lựa chọn đối tác để bàn giao quyền và nghĩa vụ đối với các quỹ, nhà đầu tư uỷ thác, nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán do doanh nghiệp tự thoả thuận và phải được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận. Đối với trường hợp doanh nghiệp không thoả thuận và thống nhất được đối tác bàn giao thì việc lựa chọn doanh nghiệp cùng ngành nghề sẽ do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ định.

5. Đối với công ty chứng khoán có đăng ký nghiệp vụ môi giới và tự doanh chứng khoán, thực hiện mở tài khoản giao dịch chứng khoán và lưu ký chứng khoán cho khách hàng, thì ngay sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản phải đồng thời thực hiện niêm phong các tài khoản tiền và tài khoản chứng khoán của cả khách hàng và tài khoản tự doanh của chính công ty. Doanh nghiệp bị tuyên bố mở thủ tục phá sản phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho nhà đầu tư các khoản tiền trong tài khoản và thực hiện việc sao kê tài khoản chứng khoán của khách hàng.

6. Trường hợp khách hàng của công ty chứng khoán chấp thuận việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ của mình sang công ty có cùng ngành nghề kinh doanh và tiếp tục thực hiện việc giao dịch tại một công ty chứng khoán khác, thì công ty chứng khoán phải chịu trách nhiệm về thủ tục bàn giao trên cơ sở thoả thuận với khách hàng. Trình tự thủ tục liên quan đến xử lý các khoản tiền gửi và tài sản uỷ thác giao dịch do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước quy định.

7. Đối với công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, thì ngay sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản phải đồng thời thực hiện việc niêm phong toàn bộ các tài khoản tiền và tài khoản chứng khoán của Quỹ đầu tư uỷ thác các tài khoản trong danh mục đầu tư của khách hàng, của công ty quản lý quỹ và hoàn tất các nghĩa vụ đã cam kết. Mọi hoạt động đầu tư và các hoạt động khác liên quan đến các tài khoản nên trên đều không có giá trị.

8. Công ty quản lý quỹ phải thực hiện việc thanh toán tài sản do khách hàng uỷ thác, bàn giao lại tài sản của các quỹ hiện đang quản lý. Trường hợp thoả thuận được việc chuyển giao số lượng tài sản và các quỹ trên cho doanh nghiệp khác cùng ngành nghề để tiếp tục uỷ thác quản lý và đầu tư thì mọi thủ tục do công ty quản lý quỹ chịu trách nhiệm thực hiện.

Điều 19. Thanh toán các khoản nợ bảo đảm và hoàn trả lại tài sản

Doanh nghiệp chứng khoán phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản sau đây trước khi phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp:

1. Thanh toán các khoản nợ được bảo đảm tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho các chủ nợ có bảo đảm theo quy định tại Điều 35 của Luật Phá sản.

2. Hoàn trả lại cho Nhà nước giá trị tài sản đã được sử dụng khi áp dụng các biện pháp cần thiết để phục hồi khả năng thanh toán và hoạt động kinh doanh theo quy định tại Điều 36 của Luật Phá sản.

Điều 20. Thanh lý tài sản của doanh nghiệp chứng khoán phá sản.

1. Việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp chứng khoán thực hiện theo phương thức và thứ tự ưu tiên như sau:

a) Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán để tiếp tục hoạt động kinh doanh;

b) Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho các đối tượng khác trong trường hợp không có đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực tham gia đấu giá mua doanh nghiệp để tiếp tục kinh doanh;

c) Bán theo phương thức trực tiếp toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực để tiếp tục kinh doanh trong trường hợp chỉ có một người đăng ký mua;

d) Bán đấu giá từng tài sản riêng lẻ được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp;  

đ) Bán tài sản riêng lẻ theo phương thức trực tiếp được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá từng tài sản hoặc giá trị tài sản dưới mức phải bán theo phương thức đấu giá theo quy định của pháp luật.

2. Công ty quản lý quỹ bị thay thế phải nhanh chóng chuyển giao toàn bộ chứng từ và mọi thông tin khác về quỹ, tài sản uỷ thác cho công ty quản lý quỹ thay thế để đảm bảo công ty quản lý quỹ thay thế có đủ thông tin nhằm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với quỹ theo các quy định của Luật Chứng khoán và các văn bản pháp lý khác có liên quan.

3. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán thuộc sở hữu nhà nước được thực hiện theo các quy định của pháp luật về bán đấu giá công ty nhà nước.

4. Thủ tục thanh lý tài sản đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán được thực hiện theo các quy định về thanh lý tài sản theo quy định tại Luật Phá sản và quy định tại Nghị định này.

Điều 21. Thứ tự phân chia tài sản

Sau khi thực hiện các nghĩa vụ về tài sản theo quy định Điều 18, 19 của Nghị định này, giá trị tài sản của doanh nghiệp chứng khoán được phân chia theo thứ tự quy định tại Điều 37 của Luật Phá sản.

 

Chương IV

PHÁ SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG

 TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH KHÁC

Điều 22. Điều kiện xác định doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính khác lâm vào tình trạng phá sản.

Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính khác được coi lâm vào tình trạng phá sản khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu hoặc vẫn bị mất khả năng thanh toán sau khi đã áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán.

Điều 23. Thông báo về việc có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Trong thời hạn năm (5) ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải thông báo cho đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp biết. Chậm nhất là mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, chủ sở hữu của doanh nghiệp phải có văn bản về việc có hoặc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán và hoạt động kinh doanh  của doanh nghiệp.

Điều  24. Thanh lý tài sản của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính phá sản.

Việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính phá sản thực hiện theo phương thức và thứ tự ưu tiên như sau:

a) Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực để tiếp tục kinh doanh;

b) Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho các đối tượng khác trong trường hợp không có đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực tham gia đấu giá mua doanh nghiệp để tiếp tục kinh doanh;

c) Bán theo phương thức trực tiếp toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động trong cùng ngành nghề lĩnh vực để tiếp tục kinh doanh trong trường hợp chỉ có một người đăng ký mua;

d) Bán đấu giá từng tài sản riêng lẻ được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp;  

đ) Bán tài sản riêng lẻ theo phương thức trực tiếp được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá từng tài sản hoặc giá trị tài sản dưới mức phải bán theo phương thức đấu giá theo quy định của pháp luật.

Điều 25. Thanh toán các khoản nợ có bảo đảm và hoàn trả lại tài sản.

Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính có nghĩa vụ sau đây trước khi phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp:

1. Thanh toán các khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho các chủ nợ có bảo đảm theo quy định tại Điều 35 của Luật Phá sản.

2. Hoàn trả lại cho nhà nước giá trị tài sản đã được áp dụng để phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại Điều 36 của Luật Phá sản.

Điều  26. Thứ tự phân chia tài sản

Sau khi thực hiện các nghĩa vụ về tài sản theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này, giá trị tài sản của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính được phân chia theo thứ tự quy định sau:

1. Phí phá sản;

2. Các khoản tiền doanh nghiệp nợ người lao động bao gồm: tiền lương và phụ cấp lương, trợ cấp thôi việc, tiền chi phí y tế, tiền bồi thường hoặc trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, các quyền lợi khác theo thoả ước tập thể và hợp đồng lao động (nếu có) đã ký kết, tiền nợ cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

3. Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

4. Giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp sau khi phân chia theo thứ tự quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thuộc về chủ sở hữu của doanh nghiệp.

 

CHƯƠNG V

XỬ LÝ VI PHẠM VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 27. Xử lý vi phạm

Việc xử lý vi phạm trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản được thực hiện theo quy định tại Điều 93 và 94 của Luật Phá sản.

Điều 28. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo

2. Các Bộ trưởng, Thủ tưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 

 

Nơi nhận:

- Ban Bí thư Trung ương Đảng;

- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; 

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

- VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;

- HĐND, UBND các tỉnh,

  thành phố trực thuộc Trung ương;

- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;

- Toà án nhân dân tối cao;

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

- Kiểm toán Nhà nước;

- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

- Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia;

- VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ,

  Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,

  các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

- Lưu: Văn thư, KTTH (5b).

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

 

 

 

 

Nguyễn Tấn Dũng